Social Icons

Hiển thị các bài đăng có nhãn Xử lý nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xử lý nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Nước và sự ảnh hưởng tới lò hơi



Nước trong tự nhiên chứa rất nhiều tạp chất. Khi bị đun nóng, các tạp chất bị tách ra khỏi dung dịch

1. Tạp chất trong nước
Nước trong tự nhiên chứa rất nhiều tạp chất. Khi bị đun nóng, các tạp chất bị tách ra khỏi dung dịch, hình thành lớp cáu trên bề mặt lò hơi. Các lớp cáu này là nguyên nhân làm giảm hiệu suất nhiệt và gây tắc nghẹn trong các đường ống.
Trong nước có nhiều chất hoà tan như:
  • Các chất khí trong không khí.
  • Khí từ các chất hữu cơ trong đất.
  • Chất phân tán lơ lửng và chất khoáng chủ yếu như: calcium carbonate, magnesium carbonate, calcium sulfate, magnesium sulfate, silica (cát), sodium chloride, sodium sulfate, và một lượng nhỏ sắt, mangan, flourides, nhôm, v.v.
Thông thường nước chứa calcium và magnesium khá cao. Còn gọi là nước cứng. Độ cứng của nước có thể thay đổi từ vài phần triệu cho đến trên 500 phần triệu. Do hợp chất calcium và magnesium hầu như không tan trong nước nên khi đun nóng, các chất này có khuynh hướng kết tủa (tách khỏi) dung dịch tạo thành lớp cáu.
Lớp cáu gây đóng cáuăn mòn. Lớp cáu làm cách nhiệt trong đường ống, giảm hiệu suất dẫn nhiệt nhưng mặt khác lại làm kim loại lò hơi quá nhiệt. Hiện tượng quá nhiệt làm hư hỏng kim loại. Các lớp cáu cặn trong các đường ống của lò hơi gây tắc nghẽn cũng dẫn đến quá nhiệt. Sự ăn mòn có thể xảy ra bên dưới các lớp cáu, thường là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rò rỉ (lủng) các đường ống.
Nước trong thiên nhiên chứa rất nhiều OxyCO2. là tác nhân Oxýt hóa. Sự Oxy hóa vừa làm giảm tính bền chắc của kim loại vừa làm hư hỏng kim loại và tạo ăn mòn. Từ đó tăng thêm lượng cáu cặn đóng.
Nếu có điều kiện, nên dùng nước giếng để cấp cho lò hơi. Vì trong nước giếng, các thành phần có trong nước tương đối ổn định và chứa các chất rắn phân tán lơ lửng ít hơn nước sông ngòi, ao hồ vốn dễ bị nhiễm tạp chất do mưa và xói mòn.

3. Tạp chất phân tán lơ lửng trong nước.

Tạp chất phân tán lơ lửng là những chất không tan được trong nước, như chất dơ, bùn, vi sinh phát triển, thực vật và các chất hữu cơ không tan khác. Thông thường tạp chất phân tán lơ lửng được biểu hiện qua độ đục (màu) của nước.

 4. Độ kiềm của nước.
Độ kiềm là đơn vị đo lường khả năng thu nhận của nước khi trung hoà một acid mạnh. Nước trong thiên nhiên, khả năng này thường do các lò hơi như bicarbonate, carbonate, và hydroxides, hoặc do silicate, borate, ammonia, phosphate, và các chất hữu cơ. Các lò hơi này, đặc biệt là bicarbonate và carbonate, sẽ phân huỷ carbon dioxide (CO2) ở dạng hơi.
Trong thành phần hóa học của nước, độ kiềm có liên quan đến các chỉ tiêu khác như pH, độ cứng và tổng hàm lượng khoáng. Việc xác định độ kiềm của nước giúp cho việc định lượng hóa chất trong quá trình keo tụ, làm mềm nước cũng như xử lý chống ăn mòn.
Đây chính là nguyên nhân chính gây ra sự ăn mòn ở đường nước hồi về. Độ kiềm cũng chính là nguyên nhân gây ra bọt khí và cáu cặn bay theo hơi trong lò hơi.

5. Độ cứng của nước.

Độ cứng của nước là một đơn vị đo lường. tổng các cation đa hóa trị có trong nước. Thông thường độ cứng chia làm 2 loại:
- Độ cứng vĩnh cửu (CaCl2, MgCl2, CaSO4, MgSO4).
- Độ cứng tạm thời (chứa thành phần Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2).
Có thể nói độ cứng phần lớn là calcium và magnesium trong nước, được tính theo chuẩn CaCO3 tương đương. Độ cứng của nước là căn nguyên của sự đóng cáu trong các thiết bị lò hơi. Thông thường độ cứng của nước được phân loại như sau:
·         5 - 75 ppm - độ cứng thấp.
·         75 -150 ppm - độ cứng trung bình.
·         150 -300 ppm - độ cứng hơi cao.
·         Cao hơn 300 ppm độ cứng cao.

Xử lý nước thải

Là các phương pháp sử dụng các thiết bị, máy móc nhằm xử lý hoặc xử lý một phần các chất ô nhiễm có trong nước thải
1.Các phương pháp xử lý nước thải.
 1.1. Phương pháp vật lý (cơ học):
Là các phương pháp sử dụng các thiết bị, máy móc nhằm xử lý hoặc xử lý một phần các chất ô nhiễm có trong nước thải. Như quá trình tách rác ra khỏi nước thải,
các thiết bị thông dụng loại này như máy tách rác, song chắn rác, máy nghiền rác, máy ép bùn, các loại thiết bị lọc (lọc cát, lọc than),…

1.2. Phương pháp hoá lý
Là phương pháp ứng dụng các quá trình hoá lý để xử lý nước thải, nhằm giảm một phần các chất ô nhiễm ra khỏi nước thải. Phương pháp hoá lý chủ yếu là phương pháp keo tụ (keo tụ bằng phèn, polymer), phương pháp đông tụ, phương pháp tuyển nổi,… dùng để loại các chất lơ lủng (SS), độ màu, độ đục, COD, BOD của nước thải.

1.3. Phương pháp hoá học
Là các phương pháp dùng các phản ứng hoá học để chuyển các chất ô nhiễm thành các chất ít ô nhiễm hơn, chất ít ô nhiễm thành các chất không ô nhiễm. Như dùng: Ozone, H2O2, O2, Cl2 … để oxi hoá các chất hữu cơ, vô cơ có trong nước thải. Phương pháp này thường có giá thành xử lý cao nên có hạn chế sử dụng. Thường chỉ sử dụng khí trong nước thải tồn tại các chất hữu cơ, vô cơ khó phân huỷ sinh học. Thường áp dụng cho các loại nước thải như: nước thải rò rỉ rác, nước thải dệt nhuộm, nước thải giấy…

 1.4. Phương pháp sinh học
       Là phương pháp xử lý nhờ tác dụng của các loài vi sinh vật. Loại này chủ yếu chia làm hai loại là sinh học hiếu khí (có mặt các loài vi sinh vật hiếu khí) và sinh học kị khí (có mặt các loài vi sinh vật kị khí). Đây là phương pháp phổ biến và thông dụng trong các quy trình xử lý nước thải vì có ưu điểm là giá thành hạ, dễ vận hành.
       Công trình đơn vị xử lý sinh học hiếu khí như: Aerotank, sinh học hiếu khí tiếp xúc (có giá thể tiếp xúc), lọc sinh học hiếu khí, sinh học tiếp xúc quay - RBC (Rotating Biological Contact).
       Công trình đơn vị xử lý sinh học kị khí như: UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) – bể lọc sinh học kị khí dòng chảy ngược, bể sinh học kị khí dòng chảy ngược có tầng lọc (Hybrid Digester), bể kị khí khuấy trộn hoàn toàn, bể mê tan…

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Xử lý nước lò hơi

Chính bởi nước có ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống lò hơi, nên vấn đề xử lý nước đặc biệt được quan tâm.
Để đạt được hiệu quả tốt nhất xử lý nước lò hơi thường dựa trên các nguyên tắc sau
-  Kiểm soát cáu cặn, ngăn ngừa cáu đóng trên bề mặt ống.
-  Kiểm soát ăn mòn.
- Ngăn chặn oxy hòa tan gây oxýt hóa làm kim loại bị hư hại, bị ăn mòn, giảm độ dày.
Việc đề ra một phương án có thể qua 2 giai đoạn: xử lý bên trong  và xử lý bên ngoài, và tùy tinh hình thực tế ta có thể thay đổi cho phù hợp.
Xử lý bên ngoài là tùy theo chất lượng nước, lắp thêm bộ xử lý như softener (làm mềm) hoặc demineralizer (khử khóang).
Hệ thống hay thiết bị làm mềm nước (water softener) là một thiết bị trao đổi ion để khử calcium và magnesium trong nước cấp lò hơi và thay thế bằng các ion Na+.
Sử dụng nước khử ion/khoáng cho lò hơi để giảm tối thiểu độ cứng. Tuy nhiên cần chú ý: nước được khử ion/khoáng sẽ gây ăn mòn lò hơi nếu như không xử lý bằng hóa chất thích hợp hoặc không khử khí hoàn toàn.
Xử lý bên trong là dùng hóa chất đưa thêm vào nước cấp để khử các chất gây ăn mòn và đóng cáu trong nồi hơi.
Tuy nhiên thiết bị làm mềm nước không thể xử lý tuyệt đối độ cứng, dư lượng thường còn lại khoảng 1-4ppm. Độ cứng tồn lưu này tích lại vẫn tạo thành lớp cáu. Đó là chưa tính đến có những thời điểm softener chưa được rửa ngược đủ hoặc hạt nhựa sử dụng lâu giảm chất lượng.
Do vậy, dù có softener, vẫn cần xử lý hóa chất vì yêu cầu của nước lò là độ cứng phải được khử hoàn toàn. Chi phí hóa chất sẽ giảm và ổn định vì softener đã đảm nhiệm một phần trong xử lý độ cứng email marketing mẫu.
Chủng loại hóa chất sử dụng và liều dùng sẽ tùy thuộc các thiết bị tiền xử lý (softener), chất lượng nước và điều kiện của hệ thống.
Và ngược lại có thể sử dụng hóa chất mà không cần hệ thống làm mềm, tất nhiên là chi phí tăng hơn vì phải tăng lượng hóa chất.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Xử lý nước công nghiệp



Xử lý nước công nghiệp

Công ty Nam Trường Giang thành lập từ năm 2007 có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xử lý nước, C.ty có đầy đủ các thiết bị hiện đại để kiểm tra các chỉ tiêu nước đầu vào và ra sau xử lý