Bản chất của sự cháy
Khoa học về đốt nhiên liệu và sự trao đổi nhiệt kèm theo nó đã phát
triển mạnh trong nhiều thế kỷ qua, nhất là ở Nhật Bản. Điều đó đã tạo
điều kiện thu nhận được những hiểu biết vững chắc và những phương pháp
luận để giải quyết những nhiệm vụ khoa học đặt ra.
Do nhiều nguyên
nhân khác nhau, khoa học về đốt nhiên liệu mới chỉ tập trung vào việc
nghiên cứu sự trao đổi nhiệt trong sự chuyển động ổn định của các tác
nhân và sự cháy theo kiểu ngọn đuốc. Những quá trình dạng sóng và dao
động của sự cháy và chuyển động của các tác nhân tham gia vào trao đổi
nhiệt không được nghiên cứu hoặc chỉ được mô tả một cách hết sức sơ
lược. Mặc dầu loài người sử dụng nhiệt năng từ thời cổ xưa nhưng khoa
học về sự cháy chỉ ra đời mới đây và đã trở nên cấp thiết ở giai đoạn
phát triển hiện đại của ngành năng lượng.
Lò hơi nhà máy nhiệt điện than
Sự cháy là một trong các quá trình lý hóa phức tạp đầu tiên mà con
người khai thác được. Bất kể sự cháy nào đều là quá trình biến đổi hóa
học của chất cháy được thành các sản phẩm cháy cùng với sự tỏa nhiệt
và ánh sáng. Sự tiến hóa của lý thuyết cháy đã diễn ra trong khuôn khổ
sự hình thành bộ môn hóa học với tư cách một ngành khoa học. Carl
Wilhem Scheele (1742 – 1786) người Thuỵ Điển đã muốn khám phá bí ẩn
của lửa và trong đó ông đã đi đến kết luận rằng, không khí không phải
là nguyên tố, mà là hỗn hợp mà theo ông, bao gồm hai chất khí: một
chất khí ông gọi là không khí “lửa”, còn khí thứ hai ông gọi là không
khí “vô dụng”. Thời đó, các nhà hóa học nói chung tin vào lý thuyết
cho rằng vật chất chỉ có thể cháy nếu như trong nó có nhiều chất bốc
cháy được - chất phlogiston. Sự cháy dường như tiêu hủy vật chất, đẩy
từ trong đó ra một cái gì đó trong suốt, không thể nắm bắt được gọi là
“linh hồn của lửa”. Nhờ lý thuyết phlogiston, các nhà bác học thế kỷ
XVII đã giải thích khá tốt nhiều hiện tượng thiên nhiên tưởng chừng
không hiểu được. Trong thời gian dài, lý thuyết này đã giúp các nhà
hóa học trong nghiên cứu và họ hoàn toàn tin chắc rằng lý thuyết đó là
đúng đắn.
Chỉ đến thế kỷ XVIII, Lomonosov và Lavoisier đã bác bỏ kiến giải sai
lầm đó. Năm 1773, Lavoisier đã đi đến nhận thức đúng đắn về sự cháy như
một quá trình hóa hợp của vật chất với ôxy của không khí. Điều đó đã
giúp nhà bác học người Pháp này đề ra lý thuyết ôxy của sự cháy. Cùng
với những thành tựu to lớn của phép phân tích hóa học, sự kiện đó đã
mở đầu cuộc cách mạng hóa học lần thứ nhất.
Những công trình nghiên cứu có hệ thống về các quá trình cháy chỉ bắt
đầu vào cuối thế kỷ XIX, nhưng do sự phát triển yếu ớt của các lĩnh vực
khoa học giáp ranh (động học phản ứng hóa học, thủy động học, lý
thuyết về các quá trình chuyển dịch) nên các kết quả của học thuyết về
sự cháy ở giai đoạn đó chỉ mang ý nghĩa định tính và không gắn với các
quá trình xảy ra ở mức phân tử.
Đến giữa thế kỷ XX đã xuất hiện những tác nhân mới kích thích phát
triển khoa học về sự cháy liên quan đến các yêu cầu của kỹ thuật tên
lửa. Trong những thập kỷ vừa qua, nhiều công trình lý thuyết và thực
nghiệm đã thực hiện dựa trên những thành tựu mới nhất của cơ học chất
lỏng và chất khí, động học các phản ứng hóa học. Ngày nay người ta đã
miêu tả được một cách rõ ràng và logic cơ chế của các hiện tượng đa
dạng trong quá trình cháy, trên cơ sở đó, các kỹ sư có thể tác động có
định hướng rõ ràng, thí dụ tác động đến tốc độ lan truyền của ngọn lửa
và tiên đoán được phản ứng của nhiên liệu trong những điều kiện cụ
thể của sự cháy.
Sự phát triển lý thuyết cháy đã dẫn đến hình thành những trường phái
lớn các nhà nghiên cứu như B. Lewis, D.B. Spolding, D. A.
Frank-Kamenski, N.N. Semenov, Ia. B. Zeldovitch.
Theo quan điểm khoa học hiện đại, sự cháy - đó là phản ứng dây chuyền
của sự biến đổi hóa năng các mối liên kết giữa các phần tử, đó cũng là
những quá trình vật lý biến đổi năng lượng ở các mức phân tử và nguyên
tử, và nhiều quá trình khác xảy ra đồng thời.
Những vấn đề chủ yếu của việc đốt nhiên liệu

Lý thuyết cháy ra đời cùng với việc xuất hiện động cơ đốt trong, đạn
đạo học pháo binh, ngành nổ mìn, hình thành trong thời đại động cơ phản
lực giờ đây đã có những bước tiến dài. Một phần đáng kể của ngành
năng lượng “lớn”, sự hoạt động của hầu như tất cả các phương tiện vận
tải, ngành quân sự và nhiều ngành công nghiệp khác là dựa trên ứng
dụng của sự cháy. Các yêu cầu về sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn
nhiên liệu truyền thống, sự phát triển nhanh dân số và việc dân số tập
trung trong các thành phố đòi hỏi tiếp tục phải phát triển lý thuyết
cháy làm cơ sở cho việc tạo ra các ngành sản xuất sử dụng quá trình
cháy với hiệu quả cao, an toàn và sạch về sinh thái.
Những vấn đề hiện đại về nghiên cứu sự cháy có thể phân ra thành một số nhóm có quan hệ với nhau:
- Những vấn đề về tài nguyên nhiên liệu - năng lượng.
- Những vấn đề về mồi cháy và duy trì sự cháy.
- Những vấn đề tổ chức quá trình cháy.
- Những vấn đề về an toàn sinh thái.
- Những vấn đề về lập mô hình toán học các quá trình cháy và nổ.
- Những vấn đề về nghiên cứu thực nghiệm sự cháy.
Những vấn đề về tài nguyên nhiên liệu - năng lượng (TNN) liên quan đến
sự cạn kiệt các nguồn nhiên liệu hữu cơ. Ngày nay than, dầu mỏ và khí
đốt chiếm khoảng 80% cân bằng năng lượng toàn thế giới. Phần còn lại
là các nguồn năng lượng không truyền thống. Để sử dụng hợp lý nguồn
năng lượng, cần phải phân bổ lại tỷ lệ trong cân bằng năng lượng hiện
nay về phía các TNN mới: sử dụng các thiết bị đốt biôga và hyđro,
chuyển từ đốt trực tiếp nhiên liệu rắn sang khí hóa nó trước khi đốt
trong các thiết trí khác nhau, v.v.
Những vấn đề về mồi cháy và lan truyền sự cháy liên quan đến tính phức
tạp của việc khống chế nguồn mồi lửa. Giải pháp là mồi lửa khí chuyển
động cuộn xoáy, tạo ra kích nổ, cũng như mồi lửa kết hợp với tác động
đồng thời của các nguồn mồi cháy khác nhau, bằng nguồn tại chỗ, nhiệt
độ dư tự cháy, nhiệt độ từ các thành vách đối tượng, v.v.
Những vấn đề tổ chức quá trình cháy bao gồm các phương pháp tổ chức
cháy khác nhau nhằm đạt hiệu suất và năng suất cao. Đó là sự chuyển từ
sự cháy sang kích nổ, tác động của điện trường lên ngọn lửa và phát xạ
các dòng electron lên ngọn lửa như một biện pháp tăng cường quá trình
cháy hiệu quả nhất, đảm bảo độ tinh khiết sinh thái của sự cháy (công
nghệ "Clean Nature"), sự cháy kiểu cuộn xoáy và rung (được ứng dụng
trong thiết bị nhiệt năng cũng như trong động cơ tên lửa).
Những vấn đề an toàn sinh thái. Những yêu cầu về sinh thái đối với quá
trình cháy có tính quyết định và ngày càng quan trọng và nghiêm ngặt
hơn. Khi sử dụng quá trình cháy vấn đề quan trọng nhất là loại trừ hoặc
ít ra là giảm xuống mức tối thiểu phát thải khí độc hại như NOx, CO,
hyđrocacbon nhiều mạch vòng, các hợp chất chứa lưu huỳnh, clo. Để đạt
mục đích đó, cần nâng cao hiệu suất làm sạch khói, tổ chức chế độ cháy
với hàm lượng tối thiểu các chất độc hại, và kể cả việc chuyển sang
nhiên liệu "sạch" về sinh thái: hỗn hợp hyđrô với ôxy.
Những vấn đề về lập mô hình toán học các quá trình cháy. Lập mô hình
toán học là một trong những phương pháp nghiên cứu phổ biến nhất các
quá trình cháy. Phương pháp lập trình hiện đại cho phép đơn giản hóa và
tăng nhanh quá trình đó, bằng cách tạo ra những cơ sở dữ liệu khác
nhau về mô hình và chương trình mô tả các quá trình cháy và nổ. Tất
nhiên vẫn phải tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng sự phù
hợp của các mô hình được tạo ra.
Những vấn đề về nghiên cứu thực nghiệm sự cháy liên quan đến những khó
khăn trong việc tạo ra các thiết bị thực nghiệm, bởi đó là những công
trình kỹ thuật cháy phức tạp chịu nhiệt độ cao với những biến thể đa
dạng dùng cho một nghiên cứu cụ thể với các phương tiện đo lường khác
nhau. Tất cả những điều đó gây khó khăn cho việc phổ biến rộng rãi các
cơ sở thí nghiệm.
Những vấn đề trên phải được giải quyết trong thời gian sắp tới với việc
tạo ra các phương tiện kỹ thuật mới trong đó thực hiện được các
phương pháp kể trên về nâng cao hiệu quả đốt nhiên liệu. Ngoài ra,
việc thiết kế các công trình nhiệt mới theo hướng cải thiện các đặc
tính đã đạt đến giai đoạn bão hòa, trong khi đó việc nâng cao một cách
căn bản các chỉ tiêu về sinh thái là rất khó khăn, cùng với đó là
phải tăng chi phí lên đáng kể. Áp dụng máy móc những kinh nghiệm trước
đây cho các điều kiện mới là tuyệt đối không thể chấp nhận được. Cần
phải phát triển ngành kỹ thuật nhiệt theo hướng mới, hiệu quả hơn, đảm
bảo an toàn về sinh thái.
Những thiết bị năng lượng trên cơ sở sự cháy xung động
Việc thực hiện các quá trình cháy xung động trong các thiết bị nhiệt
năng là rất có triển vọng. Chế độ cháy này cho phép đảm bảo nhiên liệu
tỏa nhiệt triệt để nhất, tăng cường đáng kể các quá trình trao đổi
khối lượng nhiệt và nâng cao cường độ nhiệt của buồng đốt. Trong những
điều kiện đó giảm được khối lượng kim loại của kết cấu thiết bị nhiệt
năng, giảm được chi phí lắp ráp và bảo dưỡng thiết bị. Ngoài ra các
sản phẩm cháy đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt nhất về sinh thái.
Phát thải ôxit cacbon giảm xuống còn một nửa, phát thải NOx giảm trên
2,5 lần.
Việc áp dụng rộng rãi các thiết trí cháy xung động vào các quá trình
công nghệ bị kìm hãm do thiếu lý thuyết tin cậy về quá trình vận hành
để tính toán các thông số thiết kế, kể cả tính toán kiểm tra để xác
định hiệu quả vận hành.
Cháy xung động là chế độ cháy không ổn định với các đặc tính động lực
của quá trình thay đổi theo thời gian, có thành phần biến đổi tuần
hoàn.
Hiện nay đã có rất nhiều thiết trí cháy xung động với các công dụng khác nhau, từ lò hơi tới lò thu hồi nhiệt và thiết bị sấy.
Một trong các thiết trí cháy xung động đáng chú ý nhất là lò hơi cháy
xung động (LCX) kiểu ống cộng hưởng Helmholtz. Đó là máy phát nhiệt
kiểu hâm nước, buồng đốt và bề mặt đun nóng được hợp nhất và là bộ trao
đổi nhiệt kiểu “ống trong ống”.
Kích thước hình học của bộ trao đổi nhiệt được lựa chọn sao cho chúng
tạo tần số cộng hưởng của các xung động ở vùng cháy và bề mặt đối
lưu-bức xạ của bộ trao đổi nhiệt. Hình dạng và kích thước được chọn
trên cơ sở ý tưởng tự dao động trong ống cộng hưởng Helmholtz. Các xung
động nhân tạo nhận được được xếp chồng lên các xung động của dòng
cuộn xoáy. Sự cháy được tạo nên bằng cách thực hiện nối tiếp nhau các
“vụ nổ cực nhỏ” để năng lượng của chúng được sử dụng cho việc tạo ra
công hút các thành phần hỗn hợp nhiên liệu vào đồng thời đẩy ra môi
trường xung quanh các sản phẩm cháy.
Điều kiện hình thành các vụ nổ cực nhỏ là quá trình trao đổi nhiệt biến
thiên điều hòa không ổn định được lựa chọn với biên độ và chu kỳ
riêng.
![[IMG]](https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/AEn0k_s9xU4BR0zoBogfCfY2WHDK-8pfhcWdDf70WoOsz3wGtdJ-LuDHBOanXgFoEnn5Sv1u3kT5iRxPOfThUSHvYSLFtmEZQsk5a9eC3KiHn1abCG5woqf4SXuCeIk=s0-d)
Hình 1. Sơ đồ buồng đốt của lò hơi kiểu cháy xung động (mặt cắt)
Buồng đốt và những ống cộng hưởng
được bao quanh bằng áo nước, trong đó nước hâm nóng chảy qua (ngược
chiều với dòng khói) (hình 1).
Phân tích các thiết trí có nguyên lý hoạt động tương tự cho thấy kỹ
thuật và công nghệ của phương pháp đốt nhiên liệu tương tự đã đạt trình
độ phát triển cao. Phương pháp nêu trên được thể hiện trong các công
trình nghiên cứu triển khai của các nhà chế tạo Nga và phương Tây cho
phép trong tương lai không xa thực hiện việc ứng dụng quá trình cháy
xung động trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nhiệt công nghiệp.
Ngày nay có thể xác định các trường phái chính nghiên cứu về cháy xung
động: Trường đại học Kazansk (V. M. Larionov, R. G. Zaripov); Trường
đại học Brestsk (V. S. Severianin); hãng “Inteko” (thành phố Korolev,
ngoại ô Matscơva); hãng Fulton (Mỹ), hãng AUER Gianola (Pháp).
![[IMG]](https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/AEn0k_tL48EejC-MN7VyqZOnIcYBp_n7jzruoHF7YLXPds13ZiTXIJtiLjxmZ4g1gFQ5e5DNIMjcracqQwPwhwhQwTpEMTC8DRRXCmWuMw2yEjlVfYHKtCpS9yXW1CY=s0-d)
Hình 2. Sơ đồ lò hơi cháy xung động
I. Buồng đốt; II. Áo nước; III. Các ống cộng hưởng; IV. Bình chứa của bộ cộng hưởng;
V. Bộ giảm âm khói thải; VI. Ống khói.
Các điểm đo: 1. Áp suất khói; 2. Nhiệt độ khói; 3. Nhiệt độ vách ngăn
kim loại; 4. Nhiệt độ nước làm mát trong tuyến nước; 5. Phân tích thành
phần khí của sản phẩm cháy ở đuôi lò hơi kiểu cháy xung động; 6. Áp
suất nhiên liệu.
Về nâng cao hiệu quả đốt nhiên liệu trong thiết bị năng lượng cần phải
nghiên cứu tất cả những vấn đề tồn tại nêu trên. Để đạt mục đích đó
người ta đã thực hiện mô hình toán học các quá trình trong lò hơi cháy
xung động. Để khẳng định tính xác thực và độ chính xác tính toán các
thông số vận hành của lò hơi cháy xung động, người ta đã tiến hành kiểm
tra mô hình trên cơ sở thử nghiệm tổng hợp với việc xác định các chế
độ vận hành của lò hơi cháy xung động. Thiết bị thử nghiệm dựa trên
thiết bị công nghiệp cháy xung động sẵn có, được trình bày trên hình 2.
Trong thiết bị này, thành phần xung động được xếp chồng lên chế độ cuộn
xoáy, trong đó thành phần xếp chồng đóng vai trò nâng cao hiệu quả
truyền nhiệt, giảm diện tích trao đổi nhiệt và do đó thiết bị có cường
độ nhiệt tăng cao, kích thước nhỏ so với lò hơi kiểu ngọn đuốc (lò hơi
đốt than phun) có cùng năng suất hơi.
Căn cứ vào sự phân bố dòng nhiệt trong lò hơi cháy xung động theo chiều
dài của đường dẫn khói, trên 75% nhiệt năng được nước tiếp nhận được
truyền trong buồng lửa, gần 20% trong các ống cộng hưởng và gần 5%
trong bình chứa của bộ cộng hưởng. Tính chất phân bố dòng nhiệt trong
lò hơi cháy xung động cũng được xác định bởi các đặc tính kết cấu của
các ống cộng hưởng (số lượng, kích thước, tỷ lệ giữa các tiết diện các
kênh dẫn khói và nước). Tỷ lệ giữa chúng cùng với đặc tính của buồng
đốt làm thay đổi cường độ nhiệt trường của nó trong phần chung phụ tải
lò hơi.
Do đó cháy xung động là một trong các phương pháp giải quyết những vấn
đề về đốt nhiên liệu: trong cùng một thiết bị, người ta đã đạt được
việc nâng cao hiệu quả mồi cháy và duy trì sự cháy, đảm bảo an toàn
sinh thái. Trong quá trình vận hành, các kết quả thu được trên mô hình
toán học đã được khẳng định trong các nghiên cứu thực nghiệm |