4 - Ống thuỷ bị nứt, vỡ
a) Hiện tượng
Nồi hơi đang làm việc bỗng ngh thấy tiếng thủy tinh nứt, sau đó thấy nước và hơi xì ra từ ống thuỷ, có khi thấy kim của áp kế hơi giao động.
Nếu ống thuỷ bị vỡ nghiêm trọng, thì nghe thấy tiếng nổ và sau đó thấy nước và hơi xì ra rất mãnh liệt từ ống thuỷ, kim áp kế tụt xuống một chút, cả nhà lò bị hơi phủ mù mịt.
b) Nguyên nhân
- ống thuỷ bị nóng lạnh đột ngột: khi nồi hơi đang làm việc, nhà lò bị hở, nước mưa bắn vào ống thuỷ, nước phun vệ sinh vô ý phun thẳng vào ống thuỷ, khi thông rửa ống thuỷ xong để lâu mới cho ống thuỷ làm việc lại nhưng không hé mở hơi để sấy nóng ống thuỷ trước 1,2 phút.
- Do vặn siết các vòng đệm chèn tết ở 2 đầu ống thuỷ, thân ống thuỷ (đối với ống thuỷ dẹp) khi làm việc ống thuỷ bị dãn nở, các vòng đệm này siết quá chặt ống thuỷ dãn nở không được bị rạn nứt.
- Do thùng các mặt thuỷ tinh, ống thuỷ tinh (làn ống thuỷ) kém phẩm chất, không phải là thủy tinh chịu nhiệt độ và chịu áp suất, khi nóng thuỷ tinh bị vỡ.
- Do va đập mạnh vật gì vào mặt thủy tinh...
c) Thao tác
- Phải thận trọng, khẩn trương đóng ngay van thông nước, thông hơi ra ống thuỷ, đề phòng bị hỏng phải dùng găng, kính, ủng và các trang bị cần thiết khác.
- Thay ống thuỷ mới, trình tự thao tác như sau:
+ Kiểm tra kỹ càng xem van xả đã mở hết chưa, các van thông hơi, thông nước ra ống thuỷ đã đóng thật kín chưa.
+ Nếu là ống thủy kiểu kính dẹp, thì lần lượt mở các bulông, gu dông giữa mặt ống thuỷ ra, lấy mặt kính mới thay vào, thay các gioăng đệm ở gờ đỡ mặt kính, vặn chặt các bulông, gudông để nén mặt kính ống thuỷ vào. Sử lại các mũ nắp giữ thân ống thuỷ cho kín và thẳng toàn thân ống thuỷ. Cũng có thể mở các mũ lắp lấy toàn thể ống thuỷ xuống, chữa xong, lắp 2 mũ nắp giữ 2 đầu ống thuỷ lại.
+ Nếu là ống thuỷ tròn, thì phải mở các mũ nắp (rắc - co) giữ 2 đầu ống thuỷ ra, thay các tết đệm, thay ống thuỷ mới, siết lại các mũ nắp cho ống thuỷ vững chắc, chú ý xoay ống thuỷ các phía thấy tròn đều mới bắt đầu siết 2 mũ nắp, đề phòng bị lệch ống thuỷ tinh, khi siết 2 mũ nắp sẽ vỡ ống thuỷ tinh.
+ Sau khi thay ống thuỷ mới xong, phải từ từ, thận trọng hét mở van hơi một chút để sấy ống thuỷ trước ít nhất 2 phút, sau đó mới cho ống thuỷ làm việc trở lại, theo trình tự thao tác đã nêu ở phần 1,2
Chú ý: trong qúa trình chữa, thay ống thuỷ phải bảo đảm mực nước trên trung bình, nếu thấy trước đó bị xì nhiều nước thì phải bổ sung nước vào nồi hơi hay hạn chế cung cấp hơi cho sản xuất.
- Nếu không có ống thuỷ thay thế, thì nhất thiết phải ngừng lò sự cố. Trường hợp nồi hơi có 2 ống thuỷ sáng và một hệ thống vòi kiểm tra mực nước (ống thuỷ tối) thì có thể cho phép nồi hơi tạm thời làm việc tiếp tục đến kỳ tu
- Cũng có khi do việc sửa chữa không đúng kỹ thuật, nhất là khi phải hàn và hàn đắp các bộ phận gây ra những biến dạng ảnh hưởng đến các bộ phận khác (như hàn mặt sàng ảnh hưởng đến các mép ống lốc, hàn mép kim loại gần - mối tán đanh ảnh hưởng đến các đanh tán hàn gần gờ đỡ đệm gioăng gây ra vênh mặt đỡ gioăng, không kín nữa ...)
- Do những tác động uốn có tính chất giao động tuần hoàn, làm cho kim loại ở những nơi đó làm việc "mệt mỏi" dễ dàng gây ra nứt.
d) Lưu ý
Hiện tượng nứt vỡ những bộ phận chịu áp lực dù to hay nhỏ, ở những bộ phận chủ yếu hay không chủ yếu, ở trong hay ở ngoài lò hơi, đều phải ngừng lò sự cố để tránh những tác hại hết sức nguy hiểm cho công nhân và thiết bị.
5, Van xả bẩn bị hỏng
a) Hiện tượng
- Sau khi xả bẩn xong, đóng van xả lại thấy vẫn tiếp tục rò rỉ nước ở cuối ống xả, toàn bộ ống xả sau van xả bị nóng liên tục.
Nếu bị xì nặng thì thấy nước thoát ra mạnh và thấy kim áp kế giảm xuống tương đối nhanh.
b) Nguyên nhân
- Do nắp đậy bị mòn vẹt khi đóng vào đậy không kín, nước hơi theo khe hở rò rỉ ra ngoài (gây hư hỏng nhẹ)
- Do nắp đậy bị kênh bởi những lớp cặn cứng hay kênh bởi một vật gì bỏ sót lại trong nồi hơi khi sửa chữa nồi hơi, nước thoát ra tương đối nhiều (gây hư hỏng nặng).
- Cũng có khi do trục vít của van bị gấy đứt, làm cho nắp đóng không khí hay kênh hẳn lên bệ đỡ nắp van, mà không đóng thêm tí nào nữa.
c) Thao tác
- Kiểm tra lại van xả một lần nữa bằng cách mở van lên, đóng xuống thật chặt (bằng tay không) nếu thấy van xả vẫn rò rỉ mạnh thì phải đóng ngay van chặn (lắp sát nồi hơi) và đóng cả van xả lại nghe nóng một lát nữa. Nếu nước vẫn thoát ra liên tục, thì nhanh chóng chạy bơm nước bổ sung vào nồi hơi và ngừng lò sự cố. Trong qúa trình lò giảm nhiệt độ phải chú ý bơm cấp nước bổ sung vào nồi hơi, giữ cho mức nước trong nồi luôn luôn trên mức trung bình.
- Nếu xác minh rõ ràng là chỉ có một van xả ngoài bị hỏng thì có thể đóng chặt van chặn ở trong lại, sửa chữa hay thay thế van xả đáy, rồi cho hai van này làm việc lại thử thấy tốt thì cho nồi hơi làm việc lại như thường, nhưng phải hết sức chú ý đề phòng bị hỏng.
6 - Cụm van cấp nước bị hỏng
a) Hiện tượng
Cụm van cấp nước gồm có 1 van chặn (hay còn gọi là van liên thông) và 1 van 1 chiều (hay còn gọi là van triệt hồi), van 1 chiều lắp sát nồi hơi.
Khi cụm van này bị hỏng thường gây ra hiện tượng hơi nước trong nồi rò trở lại bơm cấp nước qua hệ thống ống cấp nước, khi đường ống này nghỉ, 2 van đã đóng chặt nhưng vẫn thấy đường ống nóng bỏng.
- Khi nồi hơi làm việc chung trong hệ thống cấp nước thì thấy mực nước của nồi hơi cứ dâng cao (mặc dù các van cấp nước đã đóng kín) khi các nồi hơi khác lấy nước, vì nước rò qua các van này vào nồi hơi đó.
- Cũng có khi thấy bơm nước không vào nồi hơi nước dù van liên thông đã mở hết mức.
b) Nguyên nhân
- Trong qúa trình cụm van này làm việc nước chảy qua nắp đậy và bệ đỡ nắp của van (cờ - láp - pê và xi - e - van), trong nước có mang theo các tạp chất, đất cát bào mòn nắp và bệ nắp van, vì vậy khi đã đóng hết mức cụm van vẫn không kín.
- Cũng có khi do nước lọc không kỹ, nắp đậy của van khi đóng xuống vướng phải những vật cứng như sỏi đá, làm vênh nắp van, đóng không kín.
- Nắp đóng tự động của van một chiều bị kẹt cứng không hạ xuống được (kẹt giữa trục van với lỗ giữ và hướng trục) nếu nước có thể rò qua nắp đậy của van một chiều được.
Nếu nắp đậy của van một chiều bị kẹt cứng không nâng lên được, thì mặc dù bơm chạy, van liên thông đã mở, nhưng nước không vào nồi hơi.
Sự cố hỏng cụm van cấp nước, thường đưa tới những hậu qủa nghiêm trọng:
+ Nếu bơm chạy van hỏng, nước không vào được thì dễ gây ra sự cố cạn nước nghiêm trọng mà không biết.
+ Nếu bơm chạy, van đóng chặt (để lấy nước vào lò khác) mà nước vẫn vào lò hơi, thì dễ gây ra sự cố đầy nước quá mức mà không biết.
+ Nếu lò hơi đang làm việc, van đóng chặt mà nước, hơi vẫn rò trở lại ống, bơm cấp nước, thì rất dễ gây hư hỏng cho bơm (vì làm cho nhiệt độ nước cấp quá 50oC, cánh bơm dãn nở có thể sát vỏ bơm) hoặc gây tai nạn bỏng cho công nhân chạy bơm khi gioăng đệm của bơm bị phá, hoặc làm cho việc sửa chữa, các đường ống nước, các van nước, các mặt bích nổ trước, gặp nhiều kho khăn và không an toàn
c) Thao tác
- Nếu cụm van này bị xì, rò rỉ hơi nước nhẹ thì có thể tạm thời để cho nồi hơi đó làm việc đến kỳ sửa chữa gần nhất, nhưng không quá 1 tháng, đồng thời phải có biện pháp bảo vệ bơm cấp nước không bị hỏng do nước quá nóng, bằng cách thỉnh thoảng xả nước nóng đọng trong hệ thống ống cấp nước và trong bơm ra ngoài, khí phải sửa chữa những bộ phận của hệ thống đường ống hay bơm cấp nước, phải xả được hết nước còn lại trong ống ra ngoài mới tiến hành sửa chữa.
- Nếu cụm van này bị hỏng nặng, nước hơi rò ra rất mạnh hay ngược lại bơm nước không vào... nhất thiết phải ngừng lò sự cố.
7 - Ghi lò bị kẹt hay cháy gẫy
a) Hiện tượng
+ Đối với ghi xích tự động, thường xảy ra những hiện tượng sau đây;
- Ghi lò đang chuyển động đột nhiên ngừng lại, phần ghi ở giữa lò bị nóng quá mức, nếu bị ngừng lâu có thể bị cháy phần ghi này và gây ra hiện tượng biến dạng ở các bộ phận khác của ghi lò.
- Ghi lò đang chuyển động bình thường đột nhiên chuyển động bất thường khi nhanh khi chậm lại cũng có khi ngừng lại một chút rồi lại chạy tiếp tục.
+ Đối với ghi tinh thủ công. Thường xảy ra những hiện tượng sau đây:
- Hỏng ghi lật, ghi lắc (thường thấy trong các nồi hơi ống lửa, Bun - ga - ri, dầu xe lửa...) khi đã đánh lò xong lột hoặc lắc ghi cho xỉ tro rơi xuống gầm lò, lúc đóng lại mặt ghi không thăng bằng nữa, mặt ghi lò mặt các tấm ghi lật, ghi lắc có một khoảng trống, giò lùa mạnh vào ở vùng đó, than sẽ lọt xuống gầm lò qua khoảng trống đó.
- Hỏng ghi tĩnh - lò đang làm việc thấy sụt một khoảng than ở mặt ghi, thấy ghi cháy và than cháy dở rơi xuống gầm lò, cũng có khi chỉ thấy ghi lò biến dạng vòng xuống chưa gẫy và rơi hẳn xuống gầm lò.
b) Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng cháy, gẫy, kẹt ghi lò (các loại) là do sử dụng không khí trong buồng đốt không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không được làm mất kịp thời, bị nóng quá mức gây ra cháy,gẫy ghi, nếu mặt xích ghi rơi vào các bánh xe răng truyền động ghi xích thì gây ra kẹt ghi không chạy được nữa.
Đối với các ghi lắc, ghi lật, ngoài nguyên nhân và nhiệt cũng có thể do nguyên nhân cơ khí gây ra như gẫy chốt hãm (cờ - ra - vet) trục quay ghi lật, ghi lắc, hay ổ chứa trục ghi bị mòn rộng quá khi đóng xuống ghi không vào đúng khớp cũ, bị kênh lên hay chưa tới mặt nằm ngang.
Ngoài ra còn do những nguyên nhân sau đây:
- Dùng những gậy sắt, cào sắt quá nặng ném vào mặt ghi làm ghi vỡ, nứt.
- Chế tạo ghi lò bằng những gang quá xấu không chịu được nhiệt độ cao
- Do khung đỡ mặt ghi bị hỏng làm sụt một phần gặt ghi hay một số thanh ghi
c) Thao tác
+ Đối với ghi xích
- Nếu một vài lá mặt ghi bị cháy gẫy mà không gây kẹt ghi, thì phủ thêm than lên mặt ghi (tăng khe hở của tấm điều chỉnh than), duy trì quạt gió đều và ở mức tương đối lớn, cho ghi chạy từ từ tới khi thấy chỗ hỏng ở cửa kiểm tra ghi lò, sẽ ngừng ghi lại, nhanh chóng thay các lá ghi bị hỏng tuyệt đối cấm tắt quạt gió ở gầm ghi khi ghi lò đang dừng lại, vì làm như vậy ghi lò sẽ bị nóng quá mức và để xảy ra sự cố nghiêm trọng trên toàn bộ mặt ghi lò.
- Nếu vì lý do nào đó ghi lò bị kết, thì cho ghi lò chạy ngược trở lại một đoạn 2m, sau đó lại cho lò chạy lại như chiều bình thường, nếu ghi lò chuyển động được thì chỉ cần xem kỹ mặt ghi nếu thấy cháy một vài lá ghi thì thay như vừa trình bày ở trên.
Nếu ghi lò không chạy ngược ở lại được hay trở lại được nhưng khi chạy xuôi qua chỗ ghi hỏng lại bị kẹt, nhất thiết phải ngừng lò sự cố.
+ Đối với ghi tĩnh đốt thủ công
- Khi hỏng ghi lật, ghi lắc phải ngừng lò sự cố, để sửa chữa những ghi hỏng.
- Khi hỏng (gẫy, võng) những ghi tĩnh: tấm hay thanh có thể dùng các thanh sắt đánh lò, buộc các ghi mới bằng dây thừng đưa vào đúng nơi thay ghi, dây cháy dớt, ghi sẽ nằm vào đúng vị trí thay thế cho ghi cháy hỏng. Những ghi đã võng xuống dù chưa hỏng gẫy hẳn cũng phải thay ghi khác như phương pháp vừa nêu trên.
Chú ý: trong qúa trình thay ghi thủ công phải mở hết cửa hút gió ở gầm ghi, hạn chế mở cửa
cho than, tuyệt đối
cấm chạy quạt đẩy khi thay ghi, vì rất dễ gây ra tai nạn cho công nhân sửa chữa.


